fbpx

Bài toán dòng tiền của DN trong bức tranh suy thoái

Đại dịch Covid19 mang lại tác động không đồng đều tới các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Điều này cũng xảy ra tương tự đối với các ngành nghề và các DN kinh doanh trong ngành nghề đó. Mức độ tác động không đồng đều do ảnh hưởng từ việc đóng cửa và giãn cách xã hội, tâm lý của người tiêu dùng thay đổi. Theo đó, từ các kế hoạch, chiến lược tầm vĩ mô của 1 quốc gia tới các hoạt động nhỏ nhất trong hành vi của 1 DN hay cá nhân cũng sẽ thay đổi. Khái niệm “bình thường mới” được sinh ra trong bối cảnh Đại dịch thúc đẩy nhanh hơn quá trình số hóa DN nói riêng và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 rất rộng nói chung. Một trong những trụ cột lớn để thúc đẩy nền kinh tế vượt qua suy thoái và phục hồi nhanh là hỗ trợ nhóm các DN có khả năng phục hồi tốt mặc dù bị ảnh hưởng nặng từ Đại dịch bên cạnh việc thúc đẩy tài khóa, kiểm soát dịch tốt để mở cửa nền kinh tế trong nội địa như giai đoạn trước làn sóng Covid 19 lần thứ hai.
 
Theo đó, đối với riêng các nhóm DN, đây lại là giai đoạn “chuyển hướng” sự chú ý từ Báo cáo kết quả kinh doanh (P/L) tốt sang Bảng cân đối kế toán và báo cáo dòng tiền mạnh. Tương tự như sự tích lũy về chính sách tài khóa của chính phủ, giai đoạn làn sóng thứ nhất của dịch Covid19 vừa qua chứng kiến những DN đang đứng vững và vẫn đang tìm ra các giải pháp trong Đại dịch tính tới thời điểm này. Trước hết, xét về mặt quản trị doanh nghiệp thì đều có các khung lý thuyết chung để xử lý những vấn đề trong khủng hoảng, nhưng như nhiều dẫn chứng trong các nghiên cứu, giai đoạn này rất khác nên các giải pháp xử lý cũng đa dạng và nhìn trên tổng thể rộng hơn. Một số giải pháp chính phải tập trung mạnh mẽ như:
 
(1) Đảm bảo các khung quản trị rủi ro trong chuỗi cung ứng đã vững chắc.
(2) Đảm bảo các nguồn vốn tài trợ vẫn còn hiện hữu. 
(3) Tập trung vào chu kỳ tiền mặt hơn bất cứ thời điểm nào trong đó việc kiểm soát tồn kho trở nên khó khăn hơn, rà soát lại sát sao hơn các điều khoản trong khoản phải trả và phải thu.
(4) Hoạch định lại các kế hoạch đầu tư theo thứ tự ưu tiên.
(5) Cắt giảm các chi phí cố định và thay thế bằng các chi phí biến đổi.
(6) Tư duy trên toàn chuỗi giá trị là thiết yếu hơn bao giờ hết.
 
Thực tế các nhóm giải pháp này ít nhiều đã thể hiện qua các nhóm ngành trong giai đoạn vừa qua ở cả dạng chủ động và bị động:
 
Đối với nhóm hàng không
 
Là 1 trong những ngành bị ảnh hưởng mạnh mẽ nhất từ việc đóng cửa hoàn toàn các đường bay quốc tế, hạn chế tối đa các đường bay nội địa. Vietnam Airlines (HVN) lỗ lũy kế trong 6 tháng năm 2020 khoảng 6.500 tỷ đồng, doanh thu quốc tế giảm gần như hết và doanh thu nội địa giảm gần 58%. Trong 6 tháng HVN tài trợ HĐKD chủ yếu bằng các khoản nợ vay ngắn hạn, vốn chủ tích lũy và theo ước tính của DN cả năm 2020 sẽ lỗ sau thuế 15.177 tỷ đồng, tiền cạn và âm vốn chủ. Ngay cả với phương án SCIC đầu tư vào HVN, lãnh đạo SCIC cũng không chắc được thời điểm HVN sẽ hồi phục và bảo toàn vốn. HVN thông qua dự thảo tờ trình của Tổ tư vấn Kinh tế trình Thủ tướng phương án cấp vốn 12.000 tỷ đồng và phát hành cổ phiếu để tăng vốn. Về phía quản trị vốn lưu động, HVN dự định đàm phán lại với nhà cung cấp giãn tiến độ thanh toán đồng thời ngưng chi trả cổ tức…. Có thể thấy các phương án đối với HVN trong giai đoạn hiện tại đều rất khó vì lỗ quá nhiều và không riêng gì ngành hàng không Việt Nam, thiệt hại của ngành hàng không thế giới là khổng lồ.
 
Ở chiều ngược lại đối với 1 hãng hàng không tư nhân, Vietjet Air (LCC – hàng không giá rẻ) cũng bị lỗ trong hoạt động vận tải hàng không trong 6 tháng là 2.111 tỷ đồng. VJC đẩy mạnh hoạt động mua và cho thuê lại (SLB-Sale and lease back) ghi nhận doanh thu 3.169 tỷ đồng. Tiết giảm các loại chi phí như nhiên liệu và dịch vụ hàng không khác khi đàm phán lại với các nhà cung cấp. Lũy kế 6 tháng VJC vẫn có lợi nhuận 73 tỷ đồng, đây là con số được nhìn nhận là tích cực trong bối cảnh hiện tại, cho thấy sự năng động hơn trong quản trị tài chính và mô hình kinh doanh. Về bản chất trong dài hạn, các nghĩa vụ SLB vẫn sẽ phải thực hiện vì đây chủ yếu là các cam kết không hủy ngang, bản chất các cam kết này như là một nghĩa vụ nợ nhưng nó giải tỏa được áp lực dòng tiền trong ngắn hạn, giúp DN duy trì qua giai đoạn khó khăn nhất mà không cần quá nhiều nguồn tài trợ từ bên ngoài như vay nợ NH, trái phiếu, phát hành thêm cổ phiếu…VJC đặt kế hoạch lãi 100 tỷ đồng trước thuế trong năm 2020. Thị trường thường tập trung vào hoạt động SLB của VJC và bóc tách hoạt động này qua các năm, tuy nhiên như đã đề cập, đây không phải là giai đoạn nhìn vào P/L đặc biệt đối với 1 ngành đang suffer mạnh nhất như hàng không và sẽ còn kéo dài nhiều năm tới, trong bối cảnh HVN đang phải nhờ sự trợ giúp lớn từ Chính phủ và ngành hàng không thế giới được đánh giá thiệt hại 84 tỷ USD năm 2020. 
 
Nhóm Doanh nghiệp tôn thép
 
Theo số liệu từ Hiệp hội thép Việt Nam (VSA), tình hình sản xuất, bán hàng và xuất khẩu trogn 6 tháng đầu năm 2020 có sự sụt giảm lần lượt 6,4%, 7% và 12,8%. Đáng chú ý là tình hình tiêu thụ nội địa trong Quý 2 của thép xây dựng, ống thép và tôn mạ lại khả quan trong khi xuất khẩu vẫn sụt giảm. Điều này cho thấy, các hoạt động xây dựng cơ bản, dân dụng và hạ tầng đang diễn ra “trong thầm lặng” từ chính sách đầu tư công tới nhu cầu xây dựng của các DN, hộ gia đình được lên kế hoạch tích lũy từ nhiều năm trước. Đối với nhóm thép xây dựng, ông Trần Đình Long (chủ tịch Hòa Phát) nhận định sẽ không bị ảnh hưởng quá lớn từ dịch Covid19 ngược lại còn hưởng lợi từ trụ cột đầu tư công của Chính phủ, nhiều DN thép lỗ liên tiếp thời gian qua như NKG, HSG, thép Việt Ý… đã có lợi nhuận trở lại. Nhóm VIS, POM vẫn tiếp tục lỗ nặng. Nhóm tôn mạ đang được hưởng lợi từ mặt bằng giá HRC thấp trong nhiều tháng qua với doanh thu xuất khẩu đều giảm nhưng doanh thu nội địa cải thiện hoặc không giảm quá mạnh, tỷ suất lợi nhuận gộp được cải thiện, trong bối cảnh các loại chi phí vận hành được cắt giảm thông tái cấu trúc HĐKD, ngưng đầu tư mới, cải thiện cơ cấu nguồn, co hẹp vốn lưu động từ nhiều quý trước đó kể từ khi cuộc chiến tranh thương mại Mỹ -Trung mang lại nhiều bất định. Nhóm DN thép quy mô lớn lại đang thể hiện KQKD “ngược chiều” với thị trường chung.


 
Nhóm ngân hàng
 
Đây là nhóm “khó thấy được tác động nhất một cách tức thời” so với các nhóm DN phía trên vì lợi nhuận của ngành Ngân hàng và dịch vụ tài chính nói chung có sự biến động rất lớn phụ thuộc và chính sách chung và chất lượng tài sản trong dài hạn. Các NH năm nay hầu hết đều điều chỉnh lại kế hoạch lợi nhuận sụt giảm so với lợi nhuận thực hiện năm 2019. Lợi nhuận của ngành Ngân hàng bị ảnh hưởng 1 cách trực tiếp và gián tiếp thông qua các chính sách hỗ trợ DN theo định hướng của Chính phủ (trực tiếp) như giảm, giãn gốc và lãi, phí cho các DN bị tác động bởi bệnh dịch, bên cạnh đó chịu tác động gián tiếp từ tăng trưởng tín dụng thấp, nợ xấu tăng làm tăng trích lập DPRR. Theo nghiên cứu của Viện đào tạo và Nghiên cứu BIDV thu nhập của các NHTM năm 2020 có khả năng giảm khoảng 30 –34 nghìn tỷ đồng, giảm 20 –23% so với kế hoạch kinh doanh ban đầu và chủ yếu rơi vào 2 quý cuối của năm 2020. Các giải pháp để khắc phục sự sụt giảm này có điểm tương đồng với các DN nhưng cũng có điểm khác biệt vì đây là ngành kinh doanh rất đặc thù, có điều kiện. Điểm giống là các NH vẫn tập trung đa dạng nguồn thu từ dịch vụ, có sự ổn định lớn hơn trong dòng tiền và là hướng đi bền vững hơn, rà soát, cập nhật sát tình hình các khách hàng, nhóm khách hàng, nhóm ngành nghề có khả năng chịu ảnh hưởng lớn từ dịch bệnh. Một số NH lớn thận trọng như VCB, CTG, MBB,  đã trích lập trước cho nhóm khách hàng có nguy cơ này. Thiết kế những gói sản phẩm mới đặc thù và phù hợp hơn với định hướng bán lẻ, cắt giảm và linh hoạt hơn trong chi phí hoạt động.
 
Đối với ngành NH, vấn đề dòng tiền được nhìn trên góc độ rủi ro thanh khoản vì các NH không hoạt động đơn lẻ, sự gắn kết có thể tạo ra rủi ro trên toàn hệ thống. Một điều “khá may mắn” là tính tới thời điểm cuối tháng 5/2020, đã có 76 TCTD đã áp dụng tỷ lệ an toàn vốn theo Thông tư 41/2016/TT-NHNN, chỉ còn lại 14 TCTD là vẫn áp dụng theo Thông tư 22/2019/TT-NHNN. Kết thúc năm 2019, đã có 18 Ngân hàng đạt chuẩn Basel II nên hệ số an toàn vốn cũng được củng cố trước khi Đại dịch xảy ra. Áp lực vốn tự có chủ yếu vẫn tập trung trong nhóm NH nhỏ hơn với sự khó khăn trong tăng vốn và huy động vốn mới từ dân cư. Điểm khác đối với nhóm DN hay hộ kinh doanh là tác động của dịch bệnh tới hệ thống sẽ kéo dài hơn do tỷ trọng tín dụng vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong thu nhập của các NH. Đại dịch Covid19 được cho là có tác động thay đổi trong dài hạn đối với nhiều ngành nghề, việc hỗ trợ và trích lập đối với khách hàng cũng sẽ kéo dài trong nhiều năm tiếp theo và tùy theo danh mục, sự linh hoạt trong các giải pháp của NH đó. Tuy nhiên, hệ thống NH cũng được nhìn nhận là “nhóm cuối cùng còn sẽ còn sống sót trên thị trường” vì lịch sử đã chứng kiến, phần lớn các cuộc khủng hoảng kinh tế lại sinh ra từ khủng hoảng tài chính và nguồn gốc là từ hệ thống Ngân hàng nên đây được xem là nhóm “mạch máu” của nền kinh tế và phải được kiểm soát chặt chẽ nhất từ phía cơ quan nhà nước.
 
Nhóm thủy sản
 
Nông nghiệp được xem là nhóm ngành chủ lực của quốc gia Việt Nam, không chịu sự sụt về mặt tổng thể mà còn đóng góp vào tăng trưởng GDP trong 2 quý đầu năm 2020 nhưng cấu phần của nhóm này thì lại khác, đặc biệt là ngành thủy sản, các DN định hướng xuất khẩu đang bị ảnh hưởng nặng nề nhất. Nhóm này bị ảnh hưởng trực tiếp từ các thị trường xuất khẩu thủy sản lớn của Việt Nam như Mỹ, EU, Trung Quốc, Mexico, Ấn Độ…Các DN từ lớn tới nhỏ như MPC (tôm Minh Phú), FMC (Sao Ta), VHC (Vĩnh Hoàn), ANV (Nam Việt), HVG, IDI, Cửu Long An Giang đều có sự sụt giảm về doanh số, lợi nhuận từ trên 20% tới trên 50% trong quý II. Sự sụt giảm của nhóm ngành này không được nhìn nhận đơn giản bởi nhu cầu sụt giảm ngắn hạn mà rộng hơn là vấn đề trong toàn chuỗi cung ứng. KQKD sụt giảm mạnh chứng kiến sự phụ thuộc vào những khách hàng lớn và một số khách hàng này rơi vào tình trạng khó khăn, thậm chí phá sản. Tình trạng này gây ra các khó khăn lớn như sau: biến động lớn về giá cả đầu vào do tính tự chủ về NVL còn yếu, nông dân nuôi cá cũng đang đối mặt với tình trạng kẹt thanh khoản, dòng tiền do cá quá lứa không bán được, giá cả sụt giảm ở cả 2 đầu ảnh hưởng tới chất lượng nguồn cung (cụ thể là con giống), việc dịch chuyển sang các khách hàng khác cần thời gian và mang lại nhiều rủi ro về thanh toán, tài chính cho các DN, nguồn vốn đầu vào từ cho vay/tài trợ thương mại của các NH cũng bị hạn chế và tình trạng giãn nợ cho khách hàng của các DN lại gây ảnh hưởng bởi kỳ hạn thanh toán với các NH…Thực trạng là các DN thủy sản những ngày qua cũng đang tìm nhiều giải pháp cho những khó khăn kể trên và ngay cả các DN lớn với lợi thế về dòng tiền tích lũy vẫn đang loay hoay tìm các giải pháp thay thế bằng thị trường trong nước bằng cách hợp tác với các tập đoàn, DN bán lẻ lớn. Bài toán trước mắt vẫn là tập trung vào giải quyết hàng tồn kho, nhà cung cấp, tìm nguồn vốn tài trợ bổ sung thậm chí là M&A và dài hạn hơn là đầu tư vào chuỗi cung ứng tập trung ở đầu nguồn và cả đầu ra với các sản phẩm dinh dường, chiết xuất có giá trị gia tăng cao hơn, tìm kiếm các thị trường xuất khẩu thay thế khác để tránh rủi ro tập trung.
 
Cuối cùng, bài toán dòng tiền ở giai đoạn hiện tại lại được nhìn nhận ngày càng thực tế và sát sao hơn so với giai đoạn nền kinh tế đang bình thường. Các DN ít khi chú ý tới các mối quan hệ trong chuỗi cung ứng mà thường chỉ tập trung vào khâu thị trường trong giai đoạn thuận lợi. Và họ cũng ít chú ý tới các chi phí chìm (trong đó có cả chi phi cơ hội của vốn) được nhìn trên toàn chuỗi trong việc ra quyết định. Vì vậy, kết quả là trong giai đoạn khó khăn mới sinh ra nhiều loại tái cấu trúc mà thực ra ở đại dịch Covid19 lại là chất xúc tác để bộc lộ các yếu kém, tức đại dịch không được là nguyên nhân 100% gây ra các chiến lược tái cấu trúc này. Đây cũng là góc nhìn tích cực trong sự đào thải, cải thiện đối với các DN qua giai đoạn khó khăn, không những ở góc độ chiến lược quản trị đúng đắn mà đại dịch giúp nhìn nhận mô hình kinh doanh nào sẽ thích nghi tốt hơn hay sinh ra các mô hình kinh doanh trong trạng thái “bình thường mới”. Qua đây thì triết lý “trong dài hạn, dòng tiền chứ không phải lợi nhuận mới là nhân tố cấu thành nên giá trị nội tại (instrinsic value) của DN” mới được cảm nhận sâu hơn. Xem xét ở góc độ tác động lên giá trị dài hạn của DN, chất lượng của lợi nhuận là quan trọng hơn lợi nhuận ngắn hạn trong cơ chế thị trường.

Bài viết mới nhất:

Trả lời