fbpx

Đầu tư giá trị, bí quyết để đi bền với thị trường

 

Đầu tư giá trị đã là một khái niệm phổ biến và đã lan rộng trong các cộng đồng, các quốc gia trên toàn thế giới gần một thế kỷ qua. Cha đẻ của trường phái này là ông Benjamin Graham, cùng người đồng nghiệp của mình là ông David Dodd đã viết thành những cuốn sách được coi là “kinh thánh” trong đầu tư giá trị. Từ đó tới nay, cụm từ “giá trị” được mở rộng và áp dụng thành công bởi các học trò xuất sắc của hai ông, tiêu biểu trong đó là ngài Warren Buffett – nhà đầu tư xuất sắc nhất mọi thời đại.  


Trải qua bao nhiêu thăng trầm cùng thị trường, nền kinh tế với những cuộc khủng hoảng tài chính, những đợt tăng hoặc sụt giảm lớn, triết lý về đầu tư giá trị “trưởng thành” qua thời gian. Ban đầu, khái niệm giá trị được các nhà đầu tư hiểu là việc mua một công ty với giá thấp hơn vốn lưu động ròng (sau khi đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ nợ), khoản chênh lệch này được gọi là biên an toàn (Margin of safety) càng lớn, thì giá trị mà nhà đầu tư nhận được sẽ càng nhiều nếu công ty sớm thanh lý tài sản, giải thể để chia lại cho các cổ đông. Phương pháp này được ví như những điếu xì gà hút dở (Cigar butt), người đi  qua đường nhặt được có thể hút thêm vài hơi miễn phí trước khi tắt và không cẩn thận sẽ nhặt được những điếu xì gà đã ướt sũng không còn hút được thêm hơi nào. Có thể nói, phương pháp này tập trung vào việc đánh giá giá trị tài sản của công ty, kỳ vọng giá trị thị trường đang thấp hơn sẽ quay về các mức giá trị tài sản này, phương pháp mang nặng yếu tố định lượng và ít các yếu tố định tính như tài sản vô hình, triển vọng tương lai, văn hóa công ty, năng lực quản trị của ban lãnh đạo…Đây chính là điểm hạn chế lớn nhất mặc dù đã có rất nhiều nhà đầu tư thành công với phương pháp này nhưng cũng có rất nhiều những khoản đầu tư rơi vào trạng thái “thua lỗ vĩnh viễn”. Cũng cần xem xét trong bối cảnh cuộc đại khủng hoảng tài chính toàn cầu những năm 1929-1933, nhiều công ty đã phá sản và ông Benjamin Graham cũng đã trải qua giai đoạn này với nỗi sợ hãi những điều tương tự sẽ xảy ra trong tương lai nên có thể nói phương pháp của ông  tập trung phần lớn để “giải quyết nỗi sợ này”. 

Những người học trò đã áp dụng thành công và các cộng đồng đầu tư giá trị ngày nay vẫn còn áp dụng phương pháp này, thêm những cải tiến khác để tiếp tục gặt hái được nhiều thành công. Nhưng người học trò xuất sắc nhất của ông là Warren Buffett cũng đã kịp nhận ra điều này và một người học khác là ngài Charlie Munger đã mở rộng hai từ “giá trị” lên một tầm cao nữa mà sau này ông Warren Buffett đã phải nói rằng Charlie đã giúp tôi tiến hóa từ tinh tinh thành người với tốc độ nhanh hơn. Cả hai ông đều là những cỗ máy học tập và có trí tuệ thông thái mà Cộng đồng những nhà đầu tư trên toàn thế giới năm nào cũng tập hợp hơn 40.000 con người tại thành phố Ohama để học hỏi. Charlie Munger cho rằng hai từ giá trị là sự “thừa thãi” vì bản chất của việc đầu tư là bỏ một đồng vốn là thu lại nhiều hơn một đồng vốn ở trong tương lai, cụm từ “giá trị” đi kèm được hiểu là giá trị thực hay giá trị nội tại (Intrinsic Value) của công ty, thể hiện một lập luận vững chắc, đã được kiểm chứng qua thành công của nhiều nhà đầu tư rằng về dài hạn, giá cả của công ty sẽ xoay quanh giá trị nội tại này. Và điều này đã thực sự thuyết phục ông Warren Buffett tập trung vào những yếu tố định tính, lợi thế cạnh tranh bền vững trong dài hạn của công ty và 2 ông đã xây dựng nên Tập đoàn Berkshire Hathaway khổng lồ như bây giờ.

Vậy câu hỏi đặt ra là tại sao phương pháp này chưa được áp dụng rộng rãi tại thị trường Việt Nam?

Có rất nhiều lý do để giải thích cho câu hỏi này nhưng xin được trích 2 câu trả lời của 2 ông trong 2 buổi phỏng vấn khác nhau về cùng 1 câu hỏi là lý do tại sao phương pháp này thành công nhưng không nhiều người “bắt chước”:

  • Ông Warren Buffett trả lời rằng “Vì không ai muốn giàu chậm”.
  • Ông Charlie Munger nói rằng “Vì nó (phương pháp) quá đơn giản”.
Rõ ràng ông Warren đang là một trong những người giàu nhất thế giới, người phân bổ vốn giỏi nhất mọi thời đại. Cũng có câu nói “đơn giản nhất nhưng không đơn giản hơn”, đơn giản hoàn toàn khác với dễ dàng và những ai cho rằng việc đầu tư là dễ dàng thì đều học được những bài học lớn từ suy nghĩ này.

Chúng ta hãy tạm quên lời nói của 2 ông và quay trở lại với thực tế thị trường chứng khoán Việt Nam. Được xếp vào dạng thị trường sơ khai nên niềm tin của những nhà đầu tư vào thị trường rất thấp và số lượng người tham gia cũng rất ít. Nếu để chỉ ra 1 nguyên nhân gốc rễ của vấn đề này thì có thể nói mức độ phổ biến về mặt “nhận thức” của người dân ta về việc đầu tư rất kém, thậm chí có những người không hề biết thị trường chứng khoán đang tồn tại, họ không có ý niệm gì về việc đầu tư ngoài gửi tiết kiệm, mua đất, mua vàng. Có những người suy nghĩ thị trường chứng khoán giống như “sòng bạc cao cấp” và đa số nghĩ rằng khả năng để một nhà đầu tư cá nhân có thể tự đầu tư thành công là 0% nên họ tìm mọi cách làm sao để lấy được những thông tin mà thị trường không có mới đầu tư thành công được.Ngay cả một bộ phận những người làm nghề tư vấn (người đi bán ý tưởng đầu tư) họ cũng có những suy nghĩ tương tự như vậy và đây đều là những tư duy chưa đúng đắn với mục tiêu sinh lời bền vững từ việc đầu tư.

Nếu để nói về tính cách của người Việt Nam không phù hợp với việc đầu tư giá trị thì chưa có cơ sở để khẳng định vì tại những thị trường phát triển tỷ trọng những nhà đầu cơ, giao dịch ngắn hạn vẫn áp đảo. Có lẽ đi về bản chất của con người khó phù hợp với việc đầu tư lâu dài vì cần sự chuyên cần, tuân thủ kỷ luật rất cao. Một số nghề liên quan tới việc quản lý tài sản yêu cầu những con người phải có “gen trách nhiệm”, đây là điều gần như không thể rèn luyện mà phải có sẵn tính trách nhiệm  trong các nhà quản lý này, nếu không có tố chất này họ không thể quản lý tiền để sinh lời tốt cho các đối tác trong dài hạn, những thị trường phát triển yêu cầu đây là một trong những điều kiện tiên quyết để chọn người phù hợp. Trên phạm vi 1 bài viết, người viết sẽ tập trung vào vấn đề thực tế và đang hiện hữu tại thị trường Việt Nam là làm thế nào lan tỏa, tuyên truyền, phổ biến những nhận thức đúng đắn về công việc của một nhà đầu tư cá nhân trước. Điều này có lẽ cần thời gian vài thập kỷ tương tự như tạo ra một thế hệ các nhà đầu tư nghiêm túc, thành công đủ lớn để lan tỏa các triết lý này khắp các ngóc ngách trong cuộc sống của 1 nhà đầu tư. Một trong những người ngoại quốc có tâm huyết và đóng góp lớn vào thị trường Việt Nam là ông Dominic Scriven (chủ tịch quỹ Dragon Capital) đã cho rằng đây là công việc đòi hỏi 1 “hệ sinh thái (Ecosystem)” bao gồm sự tham gia rộng rãi của: chính phủ, cơ quan quản lý, doanh nghiệp, cơ quan truyền thông,báo chí và sự liên kết giữa các tổ chức khác như ngân hàng, công ty chứng khoán, quỹ đầu tư.…Theo quan điểm người viết thì cần thời gian và sự tuyên truyền không biết mệt mỏi vì đây là câu chuyện của việc xây dựng niềm tin, uy tín để thu hút các thành phần cùng tham gia xây dựng thị trường. Độ lớn của thị trường sẽ không quan trọng bằng độ lớn của nhận thức, niềm tin, sự nghiêm túc của đại bộ phận các nhà đầu tư tham gia thị trường và dĩ nhiên đây là nền móng vững chắc để thị trường đi xa hơn, thị trường hiệu quả sẽ không phải là thị trường phản ánh ngay tức thời với tất cả các loại thông tin mà là thị trường có nhiều nhà đầu tư có trình độ chuyên môn cao, đầu tư hiệu quả thực sự.

Có thể lấy câu chuyện U23 Việt Nam để truyền cảm hứng vì rõ ràng con người Việt Nam có sẵn tình yêu bóng đá nhưng vài chục năm qua chúng ta chưa dám mơ tới những thành tích đã đạt được có như ngày nay, những năm vừa qua có thể nói là “điểm bùng nổ” cho quá trình chuẩn bị hàng chục năm về trước với những con người đi tiên phong trong việc xây dựng học viện và câu lạc bộ bóng đá, đi khắp đất nước Việt Nam để chọn ra những “hạt mầm” có tiềm năng, đi khắp thế giới để học hỏi mang về những huấn luyện viên và cầu thủ chất lượng giúp nâng tầm cho nền bóng đá, thế hệ đó là những “ông bầu” như bầu Đức, bầu Long, bầu Kiên, bầu Thắng, bầu Hiển….thực sự đam mê bóng đá vì làm bóng đá thời đó quá nhiều bất cập, tiêu cực chứ chưa dám nghĩ tới lợi nhuận để ngày hôm nay đội tuyển có những chiến thắng vang dội, người dân có những dịp “tràn” ra ngoài đường ăn mừng vì niềm tự hào dân tộc và lạ thay tất cả mọi người như quen biết nhau từ trước.

Nếu nói tới xuất phát điểm như đất nước ta vừa mở cửa năm 1986, thị trường vừa thành lập năm 2000 với 2 công ty hiện tại chúng ta đang có khoảng 1.500 DN trên 3 sàn và ngót nghét 800 DN chưa cổ phần hóa và niêm yết. Cùng hàng trăm nghìn DN đăng ký thành lập mới hàng năm, đây sẽ là những cơ hội đầy tiềm năng trong tương lai trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghệ 4.0, việc tiếp cận và học hỏi từ thế giới ngày càng trở nên dễ dàng hơn. Nếu nhìn sang 1 đất nước khác mà cả thế giới đang phải học tập, những tập đoàn, những nhà tư bản hàng đầu thế giới đều rót vốn vào đầu tư là Isarel thì Việt Nam vẫn có những điều kiện tốt hơn đáng kể. Israel là quốc gia khởi nguồn từ trí tưởng tượng của những con người 2000 năm lưu vong, với hành trang không có gì ngoài những lời nguyện cầu trọn vẹn này đã nuôi dưỡng hy vọng và lòng trung thành của người Do Thái với vùng đất hứa của cha ông họ. Vốn liếng duy nhất mà chúng ta có thể sử dụng chính là con người. Mảnh đất khô cằn không tự dưng sản sinh ra vàng, mà phải cần đến con người tình nguyện làm nhiều, hưởng ít. Họ đã phát minh ra lối sống mới như kibbutz (nông trang), đã xây dựng nên những thị trấn và cộng đồng dân cư từ nơi chưa hề tồn tại. Họ lao động cật lực và không bao giờ thỏa mãn với bản thân, song họ cũng chính là những con người biết ước mơ và hướng đến sự “sáng tạo” (trích từ sách Quốc gia khởi nghiệp) . Có thể nói tài sản và di sản ban đầu được sinh ra từ những tư duy đúng đắn, biết đặt những lợi ích chung, lâu dài của tập thể, tổ chức lên trên lợi ích tầm thường của cá nhân. Tư tưởng này cũng rất quan trọng trong bối cảnh nền kinh tế chia sẻ với tinh thần hợp tác cùng phát triển.

Quay trở lại với câu chuyện về đầu tư  thì vai trò của “giáo dục” trong việc thiết lập ra một hệ tư tưởng của các thế hệ đi sau phải được đặt lên hàng đầu. Dường như đang có sự khác biệt, cách biệt rất lớn giữa việc giáo dục của Việt Nam so với các nước phát triển, họ đề cao ý thức, tính tự giác, sáng tạo, tự chịu trách nhiệm cho việc ra quyết định của bản thân và đặc biệt họ để những đứa trẻ tự vấp ngã và đứng dậy, đi bằng chính đôi chân của mình, ngay từ nhỏ bọn trẻ đã được dạy dỗ về chuyện tiền bạc bằng những câu chuyện sâu sắc. Khi mức độ nhận thức cao những đứa trẻ sẽ trưởng thành rất nhanh, có định hướng nghiêm túc trong mọi việc làm, chúng hiểu được rằng làm bất kỳ việc gì cũng cần quá trình rèn luyện, kỷ luật và đương nhiên việc đầu tư cũng không ngoại lệ. Đầu tư suy cho cùng là để đồng tiền làm việc sinh lợi ra nhiều đồng tiền khác nhưng khi trình độ, tầm hiểu biết chưa đủ thì việc sở hữu những khối tài sản lớn là việc làm “gây hại” cho những người sở hữu nhiều hơn và bài học là thứ duy nhất còn ở lại sau khi tài sản ra đi. Quá trình này đang bị đảo ngược lại tại Việt Nam khi đa phần nhà đầu tư bước vào thị trường để “nhân bằng lần tài khoản”, họ không nhận thức được những rủi ro mình có thể sẽ gặp, trình độ chuyên môn cá nhân để đầu tư và họ dùng kinh nghiệm tại những ngành nghề khác áp dụng và ngoại suy trong việc đầu tư với những hi vọng tươi sáng. Cuối cùng, những kinh nghiệm có sẵn không phù hợp hoặc chưa đầy đủ này quay lại làm hại họ và chính là nhân tố ngăn cản họ học hỏi những điều mới, những điều đúng đắn và những triết lý đầu tư vượt thời gian – hãy dẹp bỏ những cái tôi to lớn, tất cả mọi người khi bước chân vào một lĩnh vực mới đều phải học như một đứa trẻ với tinh thần tò mò, khiêm tốn và cầu thị.


Việc tiếp cận kiến thức, giao lưu với thị trường thế giới hiện tại đã dễ dàng nên có thể hi vọng thị trường Việt Nam có hàng trăm cộng đồng về đầu tư giá trị “đúng nghĩa”, đây sẽ là những con suối chảy xuống sông và hòa mình vào biển lớn. Thay vì cần những tổ chức thật thành công về đầu tư giá trị để lan tỏa thì mỗi nhà đầu tư cần tự xác lập lại tư duy, nghiêm túc trong quá trình nghiên cứu, nuôi dưỡng và chịu lan tỏa những giá trị đúng đắn. Quá trình cộng hưởng về giá trị đến một lúc nào đó sẽ quay ngược lại hỗ trợ tất cả mọi người đều tốt lên, nâng cao trình độ và tất cả đều sẽ có những kết quả đầu tư “thỏa đáng” với những nỗ lực của mình. “Đằng sau những gia tài không nhất thiết phải là những tội ác” , đây sẽ không phải là một trò chơi có tổng bằng 0 khi tất cả đều tạo ra những giá trị “dương” cho xã hội và cuối cùng, hiểu được tất cả các nhân tố trên chính là bí quyết đi bền với thị trường trong mọi hoàn cảnh.

Bài viết mới nhất:

Trả lời