fbpx

Biên an toàn cho nhà đầu tư thời suy thoái?

Biên an toàn (Margin of safety) là một trong những khái niệm rất quan trọng đối với nhà đầu tư giá trị được cha đẻ của trường phái này là ông Benjamin Graham sáng tạo ra. Trong bối cảnh khi trải qua cuộc đại suy thoái giai đoạn 1929 –1933, “nỗi sợ hãi” bao trùm thị trường tài chính và nền kinh tế toàn cầu. Từ đó tới nay, khái niệm này được các học trò của ông –đều là những bộ óc xuất chúng trong đầu tư đã áp dụng thực tế và đạt kết quả đầu tư rất tốt trong dài hạn. Khái niệm này được hiểu đơn giản là mua khi giá cổ phiếu nằm dưới giá trị thực (intrinsic value) với biên độ càng lớn càng tốt. Nhà đầu tư huyền thoại Warren Buffett đã từng giải thích khái niệm này 1 cách hết sức đơn giản “Cũng như một cây cầu, bất kỳ vị kỹ sư nào cũng bắt buộc phải thiết kế cho nó phải tải được 30.000 tấn, trong khi thực tế chỉ có 10.000 tấn phương tiện chạy qua. Đó chính là nguyên tắc tối thượng trong đầu tư mà tôi muốn nói tới”.

Vậy nhà đầu tư làm sao để hiểu cho đúng khái niệm này đầy đủ hơn cùng với việc áp dụng vào thực tế trong khi nền kinh tế thế giới có thể nói là bắt đầu rơi vào tình trạng suy thoái?

Trước hết nhà đầu tư cần hiểu 2 vấn đề cốt lõi xoay quanh giá trị của 1 tài sản để thấy được nguồn gốc của biên an toàn:

  • Một tài sản luôn có 2 khía cạnh là giá trị và giá trị sử dụng. Giả sử tài sản này không được đưa vào khai thác giá trị của nó được tính toán dựa trên tổng chi phí cấu thành tức giá trị sổ sách của tài sản. Mặc dù giá trị thị trường có thể cao hơn sổ sách rất nhiều nhưng đây là câu chuyện cần được xem xét kĩ hơn.
  • Nếu tài sản được đưa vào khai thác, tài sản là những thứ có thể sinh ra “dòng tiền” và dòng tiền này sẽ cấu thành nên giá trị thực của tài sản đó tính bằng việc chiết khấu dòng tiền này về hiện tại với mức lãi suất chiết khấu hợp lý (theo quan điểm của tùy nhà đầu tư).

Trường hợp đầu tiên dễ hiểu và áp dụng vào khái niệm mà ông Warren Buffett đã đề cập vì dễ dàng tính toán được con số cố định. Theo đó, nhà đầu tư thường dựa vào giá trị tài sản ròng (vốn chủ sở hữu) là thước đo để xem xét trong trường hợp tất cả tài sản của DN được thanh lý thì giá trị thu hồi là bao nhiêu, từ đó so sánh với thị giá để ra quyết định. Ví dụ giá trị tài sản khi thanh lý của DN được 30.000 đồng/cp nhưng thị giá hiện tại chỉ 10.000 đồng/cp thì nhà đầu tư có biên an toàn gần 70%. Thông thường trường hợp này cần biết rõ thời gian thanh lý tài sản và giá trị thực sự của tài sản, lợi thế thông tin có thể sẽ không thuộc về các nhà đầu tư cá nhân nên với biên an toàn càng lớn, thời gian thanh lý tài sản và DN càng sớm thì độ an toàn và giá trị nhận được càng cao. Phương pháp này khá phù hợp cho các nhà đầu tư “đi săn tìm” những DN phá sản, giải thể trong thời kỳ suy thoái như hiện nay. Lưu ý thời gian càng kéo dài có thể không có lợi cho các nhà đầu tư vì thực tế ẩn chứa nhiều điều “bất ngờ” với các nghĩa vụ phát sinh làm tăng khoản tiền các DN phải thanh toán, giảm giá trị nhà đầu tư nhận được. Một cách khác là nhà đầu tư có thể tìm kiếm những DN đang khó khăn bán thấp hơn nhiều với giá trị sổ sách và tìm kiếm các cơ sở cho thấy DN có khả năng phục hồi, giá trị sổ sách cũng sẽ là con số được kì vọng cho thị giá quay trở lại mốc này.

Trường hợp thứ hai sẽ không có con số cụ thể chính xác như trọng tải mà cây cầu có thể tải như ví dụ phía trên. Cần tư duy trên góc độ tổng thể DN trong xuyên suốt quá trình nghiên cứu cho tới khi tính toán giá trị nội tại của DN. Giá trị nội tại nằm trong một vùng giá (theo các kịch bản đặt ra) và vùng giá này hoàn toàn có thể thay đổi khi thực tế dòng tiền của DN thay đổi do những khó khăn hay thuận lợi không thể dự tính trước, các rủi ro trong cả hai phía DN và nhà đầu tư. Vì hiểu biết của các nhà đầu tư là không giống nhau cũng như trình độ chuyên môn không đồng đều, khi DN xảy ra tình trạng khó khăn lúc này biên an toàn lớn sẽ bảo vệ tỷ suất sinh lời của các nhà đầu tư. Vấn đề tại sao nên tư duy biên an toàn là 1 quá trình chứ không phải là 1 con số cố định:

  • Các nhà đầu tư thành công cần có những hiểu biết sâu sắc trên góc độ kinh doanh của DN. Các quyết định kinh doanh hay đầu tư đưa ra tại 1 thời điểm là những quyết định khó mà đầy đủ và bao quát được toàn bộ, nhiều khi thực tế lại rất khác. Nên những DN phát triển tốt thì ban lãnh đạo đều có tư duy “dự phòng” tức “biên an toàn” cho các kế hoạch của họ trong những kịch bản xấu nhất ngoài sự chuẩn bị kĩ lưỡng ra. Như vậy, với tư duy có 1 mức biên an toàn của nhà đầu tư thì đó cũng là sự phù hợp nhìn trên góc độ kinh doanh khi phải ra nhiều quyết định. Đặc biệt trong giai đoạn suy thoái hiện nay, KQKD của các DN phần lớn sẽ sụt giảm vì yếu tố không thể dự tính trước, những nhà đầu tư trước đó có lợi thế về giá vốn thấp thì biên an toàn được tạo ra thêm trong “tâm trí” của họ.
  • Quá trình nghiên cứu sinh ra những con số biên an toàn khác nhau, lấy ví dụ về chỉ số P/E của 1 DN là 10 là rất cao đối với 1 nhà đầu tư nhưng lại là cơ hội đối với các nhà đầu tư khác. Tức là quá trình nghiên cứu sinh ra biên an toàn về cả mặt con số và “trong tâm trí” của nhà đầu tư. Họ theo sát và hiểu các bước đi cũng như lợi thế cạnh tranh của 1 DN. Đây là những nhân tố “đắt giá” mà không có quy ước hay công thức chung nào có thể chỉ dẫn nếu không có quá trình nghiên cứu kĩ lưỡng và những lợi thế của DN xây trong nhiều năm không dễ để thay đổi trong thời gian ngắn. Sẽ không có biên nào “đủ an toàn” khi các nhà đầu tư thực sự hoảng loạn và hành động “phi lý trí”.
  • Có những DN mà việc ước đoán dòng tiền cũng như lợi nhuận ngắn hạn là rất khó ví dụ như trong ngành bán lẻ. Lúc này nếu đơn thuần dựa trên lợi nhuận, dòng tiền ngắn hạn có thể có sự biến động cao, tuy nhiên có thể tham khảo nhà đầu tư huyền thoại Charlie Munger gần đây khi nói về khoản đầu tư “nắm giữ cả đời” của ông vào Costco, việc ông tiếp tục mua vào cổ phiếu của DN này đơn thuần dựa trên một chút yếu tố về mặt định lượng là chỉ số P/E, bên cạnh đó là nền tảng lợi thế cạnh tranh khổng lồ của DN này và được điều hành bởi ban quản trị mà ông yêu thích. Việc theo sát bước đi, chiến lược của DN không có nghĩa là cố gắng dự đoán lợi nhuận ngắn hạn bằng nhiều cách hay tham khảo định giá của các bên khác trong khi không hiểu nền tảng cho những định giá đó là gì, việc làm này không tạo ra biên an toàn khi dựa trên quá trình nghiên cứu của các bên khác.
  • Có thể thấy qua những lập luận trên, biên an toàn được đưa ra một cách độc lập dựa trên quá trình nghiên cứu khác nhau.

Áp dụng vào thực tế?

Như đã phân tích phía trên, biên an toàn có thể không phải là một khái niệm định lượng hoàn toàn hoặc có chuẩn mực chung nào dành cho tất cả các nhà đầu tư. Một vấn đề được nhắc nhiều về những sai sót trong đánh giá của các nhà đầu tư khi dành quá ít cơ sở để kết luận những vấn đề lớn hơn, đó là “đầu tư giá trị mù quáng”, biên an toàn không sinh ra từ việc tính toán những con số trong quá khứ để suy luận rằng “DN đang giao dịch thấp hơn dòng tiền đã sinh và tích lũy trong quá khứ”, khoảng chênh lệch đó chỉ thực sự trở thành biên an toàn thực sự khi tình hình tương lai của DN tiếp diễn như vậy hoặc tốt hơn. Nhà đầu tư tự tin với những hiểu biết của mình thì chính những hiểu biết đó mang đến sự an toàn cho nhà đầu tư hơn là yêu cầu một biên an toàn khổng lồ dựa trên việc discount lớn của thị giá đối với giá trị DN. Tình huống này thường xảy ra khi nhà đầu tư khảo sát thị trường, biết được những lô “đất vàng” đang lên giá của DN, giá trị đó vượt xa giá thị trường và mua vào cổ phiếu để cuối cùng giá trị từ việc thanh lý miếng đất lại không chảy vào túi cổ đông, nhà đầu tư cũng không nắm được ý định của DN với các tài sản có giá trị, có rất nhiều cách để “đảo ngược giá trị” này về phía ban lãnh đạo hoặc các bên liên quan.

Những hiểu biết về mặt định tính lại làm nền tảng cho các nhân tố định lượng. Trong giai đoạn suy thoái, các DN có doanh thu, lợi nhuận sụt giảm mạnh nếu nhìn con số thực tế đạt được trong năm nay nhiều nhà đầu tư có thể đã tháo chạy từ sớm. Hãy thử suy nghĩ rằng nếu DN sống sót qua giai đoạn này trong 5-10 năm tiếp theo vẫn sẽ phát triển tốt thì việc sụt giảm ngắn hạn không làm thay đổi bản chất, lợi thế của DN hay tác động làm thay đổi lớn tới tỷ suất lãi kép mà nhà đầu tư đạt được nếu nắm giữ trọn vẹn trong thời gian này. Một số trường hợp giá cổ phiếu sụt giảm nhanh hơn tình hình thực tế của DN còn tạo ra cơ hội đạt được tỷ suất cao hơn. Việc này hoàn toàn khác với cụm từ “bắt dao rơi (falling knife)” trên quan niệm của các nhà giao dịch bởi nền tảng cho việc ra quyết định chỉ dựa trên tình hình ngành nghề, kinh doanh của DN. Nhiều khoản đầu tư vào các DN tuyệt vời của nhà đầu tư huyền thoại như ông Warren Buffett theo ông không có biên an toàn, chỉ trả với giá hợp lý nhưng giá trị tương lai nhận được xứng đáng với công sức nghiên cứu và hiểu biết của ông đối với DN đó như See’s Candies, Coca-cola, Geico, Gillette, American ExpressCó thể nói giá cả mang đến cơ hội cho những giả định quá thận trọng thực ra không “an toàn” bằng những hiểu biết cốt lõi của nhà đầu tư về doanh nghiệp đó vì đầu tư được xem là mang yếu tố nghệ thuật hơn là khoa học.

Cuối cùng, quá trình nghiên cứu cũng như nắm giữ các khoản đầu tư luôn là một thử thách lớn. Khi không cảm thấy tự tin hay nghi ngờ vào tương lai của DN, các nhà đầu tư mất niềm tin vào “giá trị” thường tìm tới sự an toàn qua các khái niệm khác, dễ tiếp cận, dễ sử dụng hơn để cảm thấy yên tâm hơn. Điểm chung của những khái niệm khác này là cố gắng tìm ra “đám đông” đang làm gì để đưa ra quyết định cùng với họ nhằm đạt được trạng thái thoải mái hơn, nếu có sai thì cũng có người để bàn luận, cảm thông. Chính vì vậy, việc nhận thức và đi ngược lại đám đông luôn là việc rất khó, phải chịu nhiều áp lực về mặt tâm lý trong khi không ngừng đối mặt với ranh giới giữa “sự cố chấp mù quáng và sự kiên định, giữ vững lập trường”. Nhiều nhà đầu tư, tổ chức đã không vượt qua được những áp lực này cho cách phân bổ vốn đầu tư của họ cũng thể hiện rõ triết lý “thà làm sai một cách phổ thông còn hơn đúng một mình”, rất ít những danh mục phi tập trung theo những triết lý này chiến thắng được thị trường và đây cũng là lý do các quỹ chỉ số chi phí thấp mới phát triển tới quy mô khổng lồ như ngày nay.

Bài viết mới nhất:

Trả lời